Đặc điểm phân bố vi khuẩn và tính nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn thuộc bộ Enterobacterales phân lập tại Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, 05/2024–07/2025
Abstract
Trực khuẩn Gram âm thuộc bộ Enterobacterales kháng kháng sinh đã và đang là gánh nặng cho bệnh nhân và hệ thống y tế. Việc thường xuyên cập nhật tỷ lệ nhiễm và đặc tính nhạy cảm kháng sinh của vi khuẩn cung cấp thông tin cho việc thiết lập các chiến lược quản lý kháng sinh phù hợp. Một nghiên cứu cắt ngang phân tích tại Viện Pasteur TPHCM từ tháng 05/2024 đến tháng 07/2025 nhằm khảo sát tỷ lệ nhiễm, đồng thời mô tả đặc điểm nhạy cảm kháng sinh (phương pháp vi pha loãng trên hệ thống Vitek2) trên 3.169 mẫu bệnh phẩm. Kết quả cho thấy tỷ lệ dương tính với Enterobacterales là 16,25% tương đương 515 mẫu. Trên 515 mẫu dương tính, các mẫu có nguồn gốc từ nữ giới chiếm 69,71%, từ nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm 32,42%, từ bệnh phẩm nước tiểu chiếm 70,10% và Escherichia coli (E.coli) là loài chiếm ưu thế với tỷ trọng 66,77%. Phân tích kháng sinh đồ trên 443 chủng, chỉ gồm E.coli và Klebsiella spp, cho thấy sự khác biệt về tính nhạy cảm của vi khuẩn giữa các nhóm: Nhóm Cephalosporin với tỷ lệ nhạy của Cefepime là cao nhất 66,59%, giảm dần đến Cefazolin là 21,37%. Nhóm phối hợp β-lactam, Piperacillin-tazobactam có tỷ lệ nhạy 85,09%, trong khi Amoxicillin-clavulanate chỉ đạt 50,79%. Trong nhóm Aminoglycoside, Amikacin cho tỷ lệ nhạy cao 94,58%, vượt trội so với gentamicin 72,64%. Ngược lại, nhóm Fluoroquinolone ghi nhận tỷ lệ nhạy thấp, với Ciprofloxacin và Levofloxacin lần lượt là 39,36% và 49,76%. Tỷ lệ chủng kháng Carbapenem là 2,28% và đa kháng thuốc (MDR) là 67,27% trên 443 mẫu được khảo sát, trong đó tỷ lệ MDR ở E.coli và Klebsiella spp lần lượt là 72,45% và 51,38%. Tình hình kháng kháng sinh phức tạp cho thấy sự cần thiết của việc giám sát thường xuyên tính nhạy cảm.