THỰC TRẠNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở THAI PHỤ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT Y TẾ HẢI DƯƠNG
Abstract
Mục tiêu: Mô tả thực trạng đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) và phân tích một số yếu tố liên quan ở thai phụ đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 99 thai phụ có thai 24 - 28 tuần đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương từ tháng 5/2025 đến tháng 04/2026. Tất cả các đối tượng được thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g và chẩn đoán ĐTĐTK theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2024)6. Kết quả: Tỷ lệ ĐTĐTK là 28,3%. Giá trị glucose huyết tương trung bình lúc đói, sau 1 giờ và sau 2 giờ lần lượt là 4,73 ± 0,85 mmol/L; 8,51 ± 1,54 mmol/L và 7,05 ± 1,36 mmol/L. Trong các trường hợp mắc ĐTĐTK, 92,9% được điều trị bằng chế độ dinh dưỡng kết hợp thay đổi lối sống và 7,1% cần điều trị insulin. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với ĐTĐTK gồm tuổi mẹ ≥35 tuổi (OR = 2,9; p = 0,028), tiền sử sinh con ≥4000g (OR = 8,5; p<0,001), tiền sử rối loạn dung nạp glucose (OR = 14,7; p<0,001) và tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường (OR = 22,0,001). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, số lần sinh, tiền sử sảy thai/nạo hút thai/thai lưu hoặc mức tăng cân trong thai kỳ với ĐTĐTK (p>0,05). Kết luận: Tỷ lệ ĐTĐTK ở thai phụ đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương tương đối cao (28,3%). Tuổi mẹ từ 35 tuổi trở lên, tiền sử sinh con to, tiền sử rối loạn dung nạp glucose và tiền sử gia đình có người mắc đái tháo đường là những yếu tố nguy cơ có liên quan chặt chẽ với ĐTĐTK. Việc sàng lọc bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống theo khuyến cáo và quản lý chặt chẽ các thai phụ có yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng trong phát hiện sớm, điều trị kịp thời và giảm các biến chứng cho mẹ và thai nhi.